Tuyến xe buýt số 11 (Xuân Diệu – Bệnh viện Phụ sản – Nhi) là một trong những tuyến xe buýt trợ giá có ý nghĩa đặc biệt trong mạng lưới vận tải hành khách công cộng của thành phố Đà Nẵng. Không chỉ thực hiện nhiệm vụ vận chuyển hành khách thông thường, tuyến còn đóng vai trò kết nối người dân với các cơ sở y tế trọng điểm, góp phần bảo đảm khả năng tiếp cận dịch vụ y tế bằng phương tiện công cộng.
Theo số liệu thống kê tháng 4 năm 2026, tuyến số 11 đã thực hiện 2.160 lượt xe và phục vụ 4.086 lượt hành khách, đạt bình quân 1,9 hành khách trên mỗi lượt xe. Mặc dù sản lượng hành khách hiện nay còn thấp so với các tuyến trợ giá khác, nhưng tuyến vẫn duy trì hoạt động ổn định, phục vụ nhu cầu đi lại thiết yếu của người dân.
Hiện tuyến được khai thác với 06 xe vận doanh và 01 xe dự phòng, hoạt động từ 5 giờ 30 phút đến 19 giờ 00 phút hằng ngày. Với tần suất 15 phút/chuyến trong giờ cao điểm và 30 phút/chuyến trong các khung giờ còn lại, tuyến đảm bảo khả năng tiếp cận thuận tiện cho hành khách có nhu cầu di chuyển đến các cơ sở khám chữa bệnh và các khu vực dân cư dọc hành trình.
Điểm đặc thù của tuyến số 11 là phục vụ nhóm hành khách có nhu cầu khám chữa bệnh, thăm nuôi bệnh nhân và tiếp cận các dịch vụ y tế. Đây là nhóm đối tượng có đặc điểm đi lại khác với các tuyến phục vụ học sinh, sinh viên hoặc người lao động. Nhu cầu di chuyển thường phân tán theo thời gian và không tập trung vào các khung giờ cao điểm như các tuyến đô thị khác, dẫn đến sản lượng hành khách bình quân trên mỗi lượt xe chưa cao.
Bên cạnh đó, sự phổ biến của xe máy cá nhân và các dịch vụ vận tải công nghệ cũng tạo ra áp lực cạnh tranh đáng kể đối với tuyến. Điều này khiến nhiều người dân vẫn ưu tiên lựa chọn phương tiện cá nhân khi đến các cơ sở y tế, đặc biệt trong những trường hợp cần di chuyển nhanh hoặc đi cùng người thân.
Mặc dù hiệu quả khai thác về mặt sản lượng chưa cao, tuyến số 11 vẫn mang ý nghĩa xã hội quan trọng. Việc duy trì tuyến giúp người dân, đặc biệt là người cao tuổi, học sinh, sinh viên, người lao động có thu nhập thấp và các đối tượng chính sách có thêm lựa chọn di chuyển tiết kiệm, an toàn đến các bệnh viện lớn trên địa bàn thành phố.
Trong thời gian tới, việc tăng cường truyền thông về lộ trình, điểm dừng và các tiện ích của tuyến; cải thiện điều kiện tiếp cận tại các điểm dừng gần bệnh viện; đồng thời nghiên cứu điều chỉnh tổ chức vận hành phù hợp với nhu cầu thực tế sẽ góp phần nâng cao hiệu quả khai thác của tuyến.
Phát triển vận tải hành khách công cộng không chỉ được đánh giá thông qua số lượng hành khách vận chuyển mà còn ở khả năng phục vụ cộng đồng và bảo đảm tiếp cận các dịch vụ thiết yếu. Với vai trò kết nối đến các cơ sở y tế trọng điểm, tuyến xe buýt số 11 tiếp tục là một mắt xích quan trọng trong hệ thống giao thông công cộng của thành phố Đà Nẵng, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển đô thị nhân văn, bền vững và lấy người dân làm trung tâm phục vụ.
Thanh Hải